Chương 1 của Ngô Thừa Ân Tróc Yêu Ký đưa độc giả đến thành Nam Tú, nơi yêu nhện hoành hành và một cuộc chạm trán bất ngờ đang chờ đợi.
“Khách quan, mời vào trong! Các vị có mấy người?”
“Dùng bữa hay nghỉ trọ?”
“Trừ yêu.”
“Gì cơ?”
Thành Nam Tú
Kể từ trận kinh thiên biến đến nay đã tròn năm năm. Dân chúng bên ngoài hoàng cung dường như cũng chẳng còn mấy ai nhớ rõ tiếng động kinh người của ngày hôm ấy.
Đối với người dân Nam Tú, điều khiến họ đau đầu nhất không phải trận đất rung núi chuyển ngoài ngàn dặm năm xưa, mà là tai họa ngay trước mắt do yêu nhện làm loạn, hơn nữa còn là cả một đàn nhện yêu .
Thành Nam Tú nằm trong vùng núi, tiếp giáp với lãnh địa của người Miêu ở Nam Cương. Thuở Tiên Hoàng chinh chiến thiên hạ, từng coi nơi này là trọng trấn biên thùy, có một thời cũng phồn thịnh náo nhiệt. Chỉ tiếc những năm gần đây thiên tai liên miên, dân chúng khổ không kể xiết; hết tuyết rơi giữa mùa hè lại đến lũ lụt dâng cao, khiến đất đai trong vùng càng lúc càng cằn cỗi.
Về sau, triều đình ban xuống một số hồng tiền cho những vùng chịu thiên tai, rồi quan thuế địa phương sẽ gieo hồng tiền để định mức thuế phải nộp cho năm sau: gieo ra mặt đỏ thì thuế năm ấy phải nộp gấp đôi, bằng không sẽ được miễn hoàn toàn. Cách định thuế chẳng căn cứ vào dân số hay số lượng ruộng đất, nghe qua tưởng như trò đùa, vậy mà lại đem vận may rủi của cả một vùng đất đặt cả vào một lần gieo tiền.
Nam Tú chính là nơi gặp vận rủi. Năm ngoái gieo trúng mặt đỏ, khỏi phải nói cũng biết tiếng oán than vang khắp nơi.
Đầu năm nay, thành Nam Tú cuối cùng cũng có chút chuyển biến. Mưa thuận gió hòa, đất đai khô cằn lâu ngày cuối cùng cũng được tưới mát, đem đến cho dân chúng một tia hy vọng sống. Thế nhưng cảnh tốt chẳng kéo dài bao lâu. Thành Nam Tú vừa mới hồi phục được đôi chút sinh khí thì rất nhanh lại gặp phải tai họa ngập đầu .
Ruộng đồng ngoài thành đã lâu không người chăm nom, trong thành cũng hiếm khi nghe thấy tiếng người. Ngay cả tấm biển do chính hoàng đế ngự bút đề chữ, dựng giữa thành từ thuở khai triều, giờ đây cũng mất sạch vẻ huy hoàng năm xưa, phủ đầy mạng nhện bám bụi cùng những vết cào nông sâu do yêu vật để lại.
Đầu năm ngoái, dân thành Nam Tú vẫn chưa nhận ra điều gì khác thường, chỉ cảm thấy trong thành bỗng xuất hiện thêm không ít nhện. Thế nhưng đến năm nay, từ trên núi lại bò xuống mấy con nhện sói hung dữ, lớn ngang con trâu cày, toàn thân mọc đầy những con mắt xanh sẫm. Chúng xông vào làng, không chỉ tha mất gia súc mà còn bắt đi không ít người sống.
Mãi đến khi có người mất mạng, dân làng mới kinh hoàng nhận ra rằng tình thế đã không còn cách nào cứu vãn.
Hang động trên núi Tây đã bị yêu quái chiếm cứ làm sào huyệt. Chỉ cần đi khỏi cổng vài bước rồi nhìn ra xa, sẽ thấy dãy núi trông như phủ một lớp tuyết trắng mênh mang, khắp núi đồi đâu đâu cũng giăng đầy những sợi tơ bạc.
Thỉnh thoảng cũng có vài người mạng lớn, sau khi bị bắt đi vẫn may mắn trốn được về thành. Thế nhưng trên bụng những người ấy đều mọc ra hàng chục khối u lớn nhỏ. Chưa được mấy ngày, họ đã bị lũ nhện con từ trong bụng cắn phá mà chết.
Dân làng đã mấy lần dâng đơn lên quan phủ, mong triều đình có thể vì dân trừ hại. Thế nhưng lần nào quan phủ cũng chỉ trả lời một câu:
“Đợi triều đình xử lý, hãy yên tâm chờ đợi.”
Nhưng hiện nay yêu họa nổi lên khắp nơi trong thiên hạ, triều đình nào còn sức để bận tâm đến một thành trấn biên cương nhỏ như Nam Tú?
Ngày qua ngày, tháng nối tháng.
Những người bị bắt đi đã trở thành lương thực của yêu vật; những người còn sống chỉ có thể trông mong vào một kỳ tích gần như không thể xảy ra… .
Trong lúc bất lực, trưởng làng gom góp từng chút bạc từ mỗi nhà, nhờ người có học trong làng viết mấy tờ cáo thị trừ yêu, sai những dân làng còn có thể chạy nạn mang đi dán khắp nơi.
“Đây chính là tình cảnh hiện giờ của thành Nam Tú.”
Thanh Huyền cau mày nhìn tờ cáo thị trừ yêu trong tay, khẽ thở dài. Một lúc lâu sau, hắn chỉ đành tiếp tục lần chuỗi niệm châu quấn trên cổ tay trái. Lúc này hắn mặc một bộ áo gai thô, thoạt nhìn chẳng khác nào một hành giả khổ hạnh.
Ngô Thừa Ân đứng bên cạnh thuận tay kéo một chiếc ghế đẩu lại, ngồi xuống: “Ban nãy ông chủ nghe nói chúng ta đến trừ yêu, ngay cả tiền thuê phòng cũng không chịu nhận.” Hắn ngáp một cái, vẻ mặt mệt mỏi, dường như mấy ngày liền bôn ba đã khiến toàn thân rã rời.
Một người áo đen, một người áo trắng, đi đến đâu cũng có phần bắt mắt; nhưng giữa đám người hưng phấn kéo đến trừ yêu trước mắt, hai người họ lại xem như bình thường nhất, chẳng có gì đáng chú ý.
Trước mắt có hơn ba mươi người, tất cả đều đến giúp thành Nam Tú trừ yêu.
Trên tấm biển của làng, quạ đen đã đậu kín, không ngừng kêu quang quác, như đang chế giễu đám người phía dưới.
Ngay cả trưởng làng cũng không ngờ rằng, chỉ sau vài tháng kể từ khi phát cáo thị trừ yêu, thành trấn nhỏ Nam Tú lại có thể thu hút nhiều kỳ nhân dị sĩ đến như vậy, khiến cuộc sống vốn u ám của nơi đây cuối cùng cũng le lói một tia hy vọng.
Trong đám người này, kẻ thì khoác áo cà sa, gương mặt đầy vẻ siêu phàm thoát tục; kẻ lại đeo mặt nạ dữ tợn, bên hông thậm chí còn treo mấy cái đầu yêu quái; cũng có đạo nhân tiên phong đạo cốt, thanh kiếm gỗ đào trong tay khắc đầy phù văn.
So với bọn họ, Ngô Thừa Ân và Thanh Huyền ngược lại trông giống hai dân làng đến xem náo nhiệt hơn.
Lúc này, bên chiếc giếng nước duy nhất trong làng đặt một lư hương cũ kỹ. Trong lư không hề cắm hương cầu phúc, mà chất đầy tiền đồng do toàn bộ dân làng quyên góp. Nếu đổi ra bạc, chắc cũng được vài chục lượng.
Hầu như toàn bộ dân làng đều đã có mặt, vây quanh những vị cao nhân được mời đến theo cáo thị trừ yêu. Không ít người còn quỳ xuống lễ bái, miệng không ngừng ca ngợi công đức của họ, chỉ sợ lỡ đắc tội với bất kỳ ai.
Trưởng làng đứng bên miệng giếng, không ngừng nói những lời cảm tạ khách sáo tới các vị ân nhân.
Còn đám người phía dưới thì dường như đã bắt đầu mất kiên nhẫn, một gã đàn ông cao lớn, lưng hùm vai gấu, trên tay xách thanh Cửu Hoàn Kim Đao, bước lên một bước. Hắn va mạnh vào Ngô Thừa Ân đứng bên cạnh khiến đối phương lảo đảo, nhưng chẳng buồn để ý đến ánh mắt trách móc của Ngô Thừa Ân, cứ thế cất giọng sang sảng, đầy vẻ sốt ruột:
“Lão già, đừng đứng đây nói nhảm nữa! Ta chỉ hỏi ông một câu, nghe nói năm ngoái thành Nam Tú gieo trúng hồng tiền của triều đình, chuyện ấy có thật không?”
Trưởng thôn sửng sốt, rồi ngơ ngác gật đầu. Trong đám đông nhất thời nổi lên những tiếng xì xào bàn tán.
Ngô Thừa Ân khựng lại, quay đầu nhìn Thanh Huyền.
Đại hán cầm Kim Đao nhếch miệng, lộ ra nụ cười đắc ý, đổi giọng cao giọng nói: “Thôn nào gieo được hồng tiền, về cơ bản chẳng khác nào bị triều đình lột da rút xương, vét đến chẳng còn gì. Giờ các người lại gặp yêu họa… Chậc, đúng là thảm thật.”
Nói xong, hắn tiện tay vốc một nắm tiền đồng trong lư hương, rồi xòe bàn tay ra, để từng đồng tiền leng keng rơi xuống đất.
“Chỗ này chắc cũng chỉ đáng vài chục lượng bạc thôi… Nhưng ta đoán các ngươi cũng chỉ gom được ngần ấy, đúng không?”
Giọng điệu của gã không hề che giấu sự khinh thường, khiến những người bên dưới đều nhíu mày khó chịu.
Ngay sau đó, gã xoay người nhảy phắt lên thành giếng.
“Thế này đi… số tiền này, các vị hương thân cứ mang về, hoặc chia cho những người phía dưới để bồi bổ thân thể… Còn chuyện yêu họa ở thành Nam Tú, ta nhận! Coi như ta tích chút âm đức cho mình. Đương nhiên, nếu trưởng thôn không muốn để ta uổng công một chuyến, vậy thì đem đồng hồng tiền năm ngoái triều đình ban xuống tặng cho ta, coi như để lại làm kỷ niệm…”
Lời vừa dứt, những người cầm cáo thị trừ yêu khác liền xôn xao.
Chẳng bao lâu sau, tiếng chửi bới vang lên khắp nơi. Đàn quạ vốn đang đậu trên tấm biển bị kinh động, vỗ cánh bay tán loạn; không ít người phía dưới cũng lập tức nổi sát khí.
Ngô Thừa Ân trong đám đông cũng không nhịn được mà lớn tiếng mắng:
“Đúng là không biết xấu hổ!”
Một người đứng cạnh hắn khẽ phụ họa mấy câu, giọng đầy khinh thường: “Tên này tính toán khôn thật, đến mấy chục lượng bạc cũng chẳng thèm để vào mắt. Bây giờ ai mà không biết, ở Chợ Quỷ kinh thành, một đồng hồng tiền ít nhất cũng đáng giá vạn lượng…”
Đám người phía dưới không ngừng chửi bới gã đại hán.
Đám người phía dưới thi nhau chửi mắng. Đại hán cầm đao dường như đã sớm đoán được cục diện này, bỗng nện mạnh binh khí trong tay xuống đất. Nửa thân đao “keng” một tiếng cắm phập vào đất, mấy chiếc vòng vàng trên sống đao rung lên, phát ra một tràng tiếng ngân lanh lảnh. Âm thanh càng lúc càng lớn, tựa cuồng phong kín kẽ cuốn lấy tất cả mọi người xung quanh. Không ít người lập tức biến sắc, vội bịt tai, đồng thời siết chặt đao kiếm trong tay, sẵn sàng rút binh khí giao chiến bất cứ lúc nào.
“Các vị tiên hữu, lời đã nói đến nước này rồi, mọi người đừng có lề mề dây dưa nữa.” Đại hán thấy tình thế đã ổn định, thong thả rút binh khí ra, lại vác lên vai. “Nếu đã đều vì hồng tiền mà tới, vậy chúng ta cứ thẳng thắn mà nói chuyện.”
“Nếu mục đích của mọi người đều giống nhau, vậy ít nhất cũng phải phân rõ trước sau chứ?”
Một đạo sĩ hạc phát đồng nhan đứng bên cạnh Thanh Huyền dường như có phần bất mãn, vừa nói, lão vừa nhấc chuông đồng và kiếm gỗ đào, chỉ thẳng vào gã đại hán mà quát:
“Đồ quê mùa từ đâu chui ra thế? Đến chút quy củ cũng không hiểu! Để bần đạo tiễn ngươi quay về bụng mẹ mà học cách nói chuyện đi!”
“Ha ha ha, vị tiền bối này nói cũng có lý! Chỉ có điều…” Đại hán cầm kim đao nghe đến đây, khẽ xoay người, nhếch miệng cười với đạo sĩ kia, “Đạo lý của ta còn lợi hại hơn một chút!”
Nói thì chậm, xảy ra lại nhanh.
“Không ổn!” Thanh Huyền và Ngô Thừa Ân đồng thanh thốt lên.
Ngay khoảnh khắc sau, đạo sĩ còn chưa kịp đáp lời đã bị Thanh Huyền ấn ngã xuống đất. Còn Ngô Thừa Ân giơ tay trái lên, hai chân tách thành thế mã bộ, lập địa sinh căn, chặn ngang một đao đang bổ tới.
Một tiếng va chạm vang lên.
Mấy người đứng trong phạm vi nửa trượng xung quanh đều bị chấn ngã xuống đất. Đại hán cầm kim đao cũng không định tiếp tục truy kích. Hắn nheo mắt, chỉ nghe động tĩnh vừa rồi đã biết trong ống tay áo rộng thùng thình của tên thư sinh này chắc chắn đang giấu thứ gì đó lợi hại.
Đạo sĩ sợ đến vãi cả ra quần, vừa giơ tay định đẩy Thanh Huyền ra thì mới nhận ra mình vừa may mắn tránh được một đòn tất sát của đại hán cầm kim đao.
“Vừa rồi ngươi muốn lấy mạng người à?”
“Vừa rồi ngươi định lấy mạng người ta sao?”
Ngô Thừa Ân xoa xoa cánh tay tê rần, lạnh lùng hỏi đại hán. Một đao vừa rồi lực đạo cực lớn, tuyệt đối không phải chỉ muốn ra oai dọa người.
Ý đồ của nhát đao ấy rất rõ ràng: giết người, lấy mạng.
Đại hán cầm kim đao thản nhiên nhìn Thanh Huyền và Ngô Thừa Ân đang đầy vẻ cảnh giác, thò tay vào ngực áo lục lọi một lúc rồi nói: “Ồ, cũng có chút bản lĩnh… Khụ, tại hạ có một tấm danh thiếp, mong hai vị nể mặt.”
Hắn lấy từ trong áo ra một miếng gấm thêu, đưa cho Ngô Thừa Ân.
Ngô Thừa Ân giơ tay nhận lấy, chỉ liếc qua một cái rồi lập tức im bặt, sau đó chuyển cho Thanh Huyền xem. Thanh Huyền nhìn xong cũng không lên tiếng. Những người xung quanh tò mò rướn cổ nhìn tấm “danh thiếp” kia.
Khi nhìn rõ hình thêu trên đó, đám đông lập tức xôn xao, khí thế ban nãy cũng tan biến sạch. Ngay cả đàn quạ vẫn lượn vòng giữa không trung cũng kêu quang quác rồi vỗ cánh bay mất.
Trên miếng gấm, những sợi chỉ vàng lấp lánh thêu thành mấy chữ lớn chói mắt:
Trấn Tà Ty – Nhị Thập Bát Tú – Chấn Cửu Châu.
Ngô Thừa Ân cân nhắc miếng gấm trong tay, đồng thời liếc nhìn Thanh Huyền. Thanh Huyền khoát tay, ra hiệu cho hắn đừng nói nhiều.
“Không tệ.” Đại hán cầm kim đao chắp hai tay, miễn cưỡng xem như hành lễ. “Tại hạ là Cẩm Y Vệ Nhị Thập Bát Tú, người ta gọi Đại Hoàn Kim Đao Mạc Tương Phùng, đao quang kiếm ảnh Chấn Cửu Châu. Bạn bè trên giang hồ nể mặt thì gọi ta một tiếng Chấn Cửu Châu.”
Mọi người nhìn nhau, nhưng không một ai dám lên tiếng. Nhìn phản ứng sợ hãi của đám đông, ại hán cầm kim đao lộ vẻ đắc ý: “Khụ, mong chư vị tiên hữu nể mặt ta vài phần. Chuyện này vẫn nên giao cho triều đình giải quyết thì hơn. Bằng không…”
Vừa nói, thanh kim đao trong tay hắn lại rung lên khe khẽ, rõ ràng mang ý uy hiếp mọi người. Nhưng lần này không ai dám gây chuyện nữa. Mấy năm nay, danh tiếng của Cẩm Y Vệ Trấn Tà Ty vang khắp thiên hạ, mà Nhị Thập Bát Tú lại càng là những cao thủ chỉ tồn tại trong lời đồn.
Đối đầu với triều đình ư? Đây đâu phải chuyện nhỏ.
Không bao lâu sau, có người bước lên, vốc một nắm tiền đồng trong lư hương nhét vào ngực áo, liếc nhìn gã đại hán cầm kim đao một cái rồi xoay người rời đi.
Rất nhanh, từng tốp hai ba người bên dưới cũng bắt chước hành động đó, lấy một ít tiền rồi lặng lẽ bỏ đi.
Đến cuối cùng, trong số những người còn lại, ngoài Ngô Thừa Ân, Thanh Huyền và gã đại hán cầm kim đao, chỉ còn vị đạo sĩ vừa bị đá một cước ban nãy, cùng với gã quái nhân mặt rổ có bên hông treo đầy đầu yêu thú.
Ngô Thừa Ân lặng lẽ nhìn đám người ngày một thưa dần, rồi nhìn chiếc lư hương gần như đã trống rỗng. Hắn rất muốn mở miệng mắng cho đám người cầm tiền bỏ đi kia một trận. Không ngờ bọn chúng lại còn mặt dày đến mức lấy luôn cả tiền mồ hôi nước mắt của dân làng.
Thanh Huyền vẫn không chút biểu cảm: “Đám người này mà thật sự đi trừ yêu, ít nhất cũng phải chết quá nửa.”
Ngô Thừa Ân khẽ nhếch miệng. Thực ra hắn hiểu ý Thanh Huyền.
Trong đám ô hợp ấy, người có thể nhìn ra thực lực của gã đại hán cầm kim đao lúc nãy không quá tám người. Nếu thật sự đối mặt với yêu quái, phần lớn bọn họ có khi đến mình chết thế nào cũng chẳng biết, chỉ một cái chớp mắt đã mất mạng. .
“Người vẫn còn hơi đông nhỉ…”
Gã đại hán cầm kim đao kiên nhẫn chờ thêm một lúc. Sau khi xác nhận sẽ không còn ai rời đi nữa, hắn nhổ một bãi nước bọt vào lòng bàn tay, nhấc thanh đại đao lên rồi nói:
“Thế nào đây các vị? Hay là chúng ta tỷ thí trước ngay tại đây đi? Kẻo lát nữa lên núi, có người đỏ mắt vì tiền thưởng rồi lại đâm lén sau lưng.”
“Đại nhân! Đại nhân!”
Trưởng làng nãy giờ vẫn đau lòng nhìn người ta lấy sạch tiền đồng trong lư hương, trong lòng khổ sở nhưng không dám lên tiếng.
Lúc này ông biết tuyệt đối không thể để gã đại hán tiếp tục gây chuyện nữa.
“Yêu quái ở trên ngọn núi phía tây. Lão hủ xin lấy tính mạng mình ra đảm bảo, bất kể vị ân nhân nào diệt được lũ yêu nhện đó, lão hủ nhất định sẽ dâng hồng tiền do triều đình ban bằng cả hai tay… Chỉ xin các vị đừng chém giết nhau trong làng nữa.”
Ý của ông rất rõ ràng.
Gã đại hán đã khiến không ít người bỏ đi. Nếu vài người còn lại cũng xảy ra chuyện, kẻ chết người bị thương, thì sẽ chẳng còn ai đối phó được yêu quái nữa.
Nghe xong, gã đại hán khịt mũi một tiếng, vác binh khí lên vai rồi sải bước về phía tây của ngôi làng.
Chẳng bao lâu sau, vị đạo sĩ và gã quái nhân mặt rổ cũng lần lượt lên đường, hướng thẳng về hang động trên núi Tây.
Lúc này Ngô Thừa Ân mới quay sang hỏi Thanh Huyền: “Nói mới nhớ… trong Nhị Thập Bát Tú thật sự có một người như hắn sao?”
“Không cần phải xung đột với hắn.” Thanh Huyền đáp. “Trong Nhị Thập Bát Tú quả thực đã có người đến thành Nam Tú.”
Thanh Huyền giơ tay chỉ về phía tấm bảng ở đầu làng.
Ngô Thừa Ân ngẩng đầu nhìn theo hướng tay hắn. Đám quạ vừa bị kinh động bay tán loạn lúc nãy đã quay trở lại tụ tập trên tấm bảng ở đầu làng. Chúng kêu quang quác không ngừng, nghe thê lương đến mức khiến người ta đau đầu.
Trong số đó có một con quạ đen đang rỉa lông trên người, cái đầu ngoẹo sang một bên, đôi mắt đen láy cứ chăm chăm nhìn Ngô Thừa Ân phía dưới. Khi ánh mắt Ngô Thừa Ân chạm phải nó, hắn lập tức cảm thấy sống lưng lạnh toát, trong lòng dâng lên một cảm giác vô cùng khó chịu.
“Ờ…” Ngô Thừa Ân lắc đầu, chẳng hiểu vì sao, “Tóm lại, Cẩm Y Vệ Trấn Tà Ty đã tới rồi, đúng không? Vậy chuyện ở thành Nam Tú cứ giao cho bọn họ chẳng phải được rồi sao?”
“Không.” Thanh Huyền đáp dứt khoát, giọng chắc như đinh đóng cột. “Ngược lại, chúng ta phải lập tức lên núi trừ yêu, không được chậm trễ dù chỉ một khắc.”
Con quạ trên tấm bảng bỗng há mỏ, cất lên một tiếng “Ác…”.
Tiếng kêu thê lương đến rợn người.
Ngô Thừa Ân lúc này mới hiểu vì sao Thanh Huyền lại sốt ruột đến vậy. Bởi đôi cánh của con quạ kia đầy đặn một cách khác thường, vừa nhìn đã khiến người ta không khỏi rùng mình.
Dẫu sao, có những dấu hiệu, có những truyền thuyết, thậm chí chỉ là một cái tên thôi, cũng đủ khiến người ta bất giác sinh lòng kính sợ.
“Lục Sí Ô Nha (quạ sáu cánh); Huyết Bồ Tát…” Ngô Thừa Ân lẩm bẩm một mình, rồi chợt cảm thấy da đầu tê dại từng hồi.

Gửi phản hồi